NLĐ không được nhận tiền TTTN do DN không trả sổ BHXH, khởi kiện được không

Chúng tôi vẫn thường tiếp nhận những trường hợp mà Người lao động phản ánh với Luật sư, nhờ Công ty Luật chúng tôi tư vấn để khởi kiện Người sử dụng lao động đối với trường hợp Người sử dụng lao động cố tình không trả sổ bảo hiểm xã hội, dẫn đến NLĐ bị trễ hạn để nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm.

Về khía cạnh này, pháp luật quy định như sau:

Tại khoản 3 điều 47 BLLĐ 2012 thì: “3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.”

Tại khoản 1 điều 46 Luật Việc làm 2013 thì: “1. Trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, người lao động nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm do cơ quan quản lý nhà nước về việc làm thành lập.”

Theo quy định này, chúng ta có thể hiểu rằng thời hạn tối đa sẽ dưới 03 tháng kể từ ngày chấm dứt HĐLĐ thì NSDLĐ phải có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ BHXH cho NLĐ để NLĐ kịp thời hạn nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Tuy nhiên, trên thực tiễn xét xử, tùy theo quan điểm của từng Hội đồng xét xử mà Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của NLĐ trong việc yêu cầu NSDLĐ phải có nghĩa vụ trả cho NLĐ toàn bộ số tiền trợ cấp thất nghiệp đáng lẽ ra NLĐ phải được tổ chức bảo hiểm xã hội chi trả nhưng do NSDLĐ không trả sổ BHXH đúng hạn nên NLĐ không đáp ứng đủ điều kiện về thời gian để nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp

Về quan điểm thứ nhất: Tòa án chấp nhận yêu cầu của NLĐ. Tòa án nhận định và cho rằng: theo khoản 1 điều 46 Luật Việc làm 2013 thì NLĐ phải nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp trong vòng 03 tháng kể từ ngày chấm dứt HĐLĐ, đồng thời NSDLĐ phải có nghĩa vụ hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ BHXH theo khoản 3 điều 47 BLLĐ 2012. Do đó, việc không trả lại sổ BHXH cho NLĐ hoàn toàn là do lỗi của NSDLĐ nên tuyên buộc NSDLĐ phải có nghĩa vụ trả cho NLĐ toàn bộ số tiền trợ cấp thất nghiệp mà NLĐ đáng lẽ ra sẽ được nhận tại tổ chức BHXH.

Về quan điểm thứ hai: Tòa án không chấp nhận yêu cầu của NLĐ. Tòa án nhận định và cho rằng: căn cứ khoản 6 điều 18 Nghị định 28/2015/NĐ-CP ngày 12/3/2015 của Chính phủ thì tiền trợ cấp thất nghiệp chưa đủ điều kiện được hưởng sẽ được bảo lưu cho lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo. Cụ thể như sau: “6. Sau thời hạn 03 tháng kể từ ngày người lao động hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp và không thông báo bằng văn bản với tổ chức bảo hiểm xã hội nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp thì người lao động đó được xác định là không có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp tương ứng với số tiền trợ cấp thất nghiệp mà người lao động không đến nhận được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo khi đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định.”. Do đó, việc NLĐ yêu cầu NSDLĐ trả toàn bộ số tiền trợ cấp thất nghiệp sẽ không được Tòa án chấp nhận. 

Quan điểm của chúng tôi sẽ đứng về quan điểm thứ nhất, bởi vì các lý do sau đây:

Thứ nhất, pháp luật đã quy định NLĐ phải được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi họ bị thất nghiệp, không có thu nhập là nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp để họ trang trải cuộc sống trong khoảng thời gian tìm công việc mới.

Do đó, nếu trong khoảng thời gian thất nghiệp mà NLĐ không có được khoản tiền trợ cấp thì người lao động phải vay mượn hoặc sử dụng một nguồn tiền đang sinh lợi khác để trang trải cuộc sống. Đây là thiệt hại thứ nhất của NLĐ.

Thứ hai, theo khoản 1 điều 50 Luật Việc làm 2013 thì “1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp”.

Do NSDLĐ không trả sổ BHXH đúng hạn nên thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp của NLĐ bị bảo lưu. Giả sử sau đó NLĐ làm việc ở công ty sau nhưng có thu nhập thấp hơn công ty trước, nếu NLĐ nộp hồ sơ để hưởng trợ cấp thất nghiệp sau khi nghỉ việc ở công ty sau thì họ chỉ được hưởng mức trợ cấp thất nghiệp tương ứng với mức thu nhập ở công ty sau mà thôi, nên số tiền trợ cấp thất nghiệp thực nhận sẽ bị thấp hơn. Đây là thiệt hại thứ hai của NLĐ.

Thứ ba, cũng tại khoản 2 điều 50 Luật Việc làm 2013 quy định “2. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng”.

Giả sử NLĐ làm việc ở công ty trước đóng đủ 12 tháng bảo hiểm thất nghiệp, theo quy định trên thì họ được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp. Nhưng do NSDLĐ không trả sổ BHXH đúng hạn nên thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp của NLĐ bị bảo lưu. Sau một khoảng thời gian sau, NLĐ lại đi làm việc tiếp 12 tháng cho một công ty khác có tham gia BHTN, sau khi nghỉ việc NLĐ nộp hồ sơ để hưởng trợ cấp thất nghiệp. Lúc này thời gian đóng BHTN được cộng dồn là 24 tháng. Theo quy định tại khoản 2 điều 50 Luật Việc làm 2013 thì NLĐ này cũng chỉ được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp mà thôi. Đáng lẽ ra nếu NSDLĐ trước trả sổ đúng hạn thì NLĐ sẽ được hưởng đến 06 tháng TCTN, 03 tháng của công ty trước, 03 tháng của công ty sau. Đây là thiệt hại thứ ba của NLĐ.

Từ đó, cho thấy rằng, việc Tòa án chấp nhận yêu cầu của NLĐ, tuyên buộc NSDLĐ phải có nghĩa vụ trả cho NLĐ toàn bộ số tiền trợ cấp thất nghiệp mà NLĐ đáng lẽ ra sẽ được nhận tại tổ chức BHXH là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với thực tế cuộc sống của NLĐ.

Trên đây là quan điểm của Apolo Lawyers đối với việc “Người lao động không được nhận tiền trợ cấp thất nghiệp do doanh nghiệp không trả sổ BHXH, người lao động có khởi kiện được không?”. Trong trường hợp Quý độc giả có ý kiến hoặc yêu cầu đối với việc tư vấn hoặc tranh chấp về lao động, vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin bên dưới:

CÔNG TY LUẬT APOLO LAWYERS

Tầng 10, Tòa nhà PaxSky, số 51 Nguyễn Cư Trinh, Q.1, TP. Hồ Chí Minh

Tel: (028) 66.701.709 | (028) 35.059.349

Mobile: 0903.600.347 | 0908.043.086

Email: luatsu@apolo.com.vn

Website: http://apolo.com.vn